Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Quốc giỗ trong lòng người Việt


Nếu mỗi gia đình đều có cha mẹ, ông bà, tổ tiên thì đất nước, quốc gia cũng có cha Rồng, mẹ Tiên, Quốc tổ Hùng Vương

Tâm thức hướng về tổ tiên, nòi giống, cội nguồn luôn sâu nặng trong mỗi người Việt Nam, như cha ông đã nói “Con người có tổ có tông”. Ðó cũng là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên hệ ý thức Việt Nam từ buổi đầu của thời kỳ hình thành một quốc gia phong kiến tự chủ. Từ đó kết tinh thành huyền thoại, truyền thuyết, những ký ức lịch sử, thành một giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa, nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam.
Thủy tổ của dân tộc
Xã hội Việt Nam truyền thống dựa trên 3 yếu tố nền tảng: Nhà - làng - nước. Từ đây hình thành nên cung cách ứng xử mang bản sắc riêng là lấy khuôn ứng xử gia đình, gia tộc mở rộng ra ứng xử xã hội, nói cách khác là “gia tộc hóa xã hội”. Cũng vì thế mà từ xa xưa, người Việt Nam đã coi quốc gia - dân tộc như là một “gia đình lớn”. Nếu mỗi gia đình đều có cha mẹ, ông bà, tổ tiên thì đất nước, quốc gia cũng có cha Rồng, mẹ Tiên, Quốc tổ Hùng Vương.
Ở Việt Nam, việc truyền khẩu dân gian về sự tích Vua Hùng kèm theo các nghi thức, lễ hội có từ rất sớm mà sau này các nhà khảo cổ học đã phát hiện nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ phù hợp với các truyền tụng dân gian. Tuy nhiên, việc ghi chép trong thư tịch về lịch sử và phong tục thờ cúng Hùng Vương thì lại xuất hiện khá muộn, nhất là trong các bộ chính sử và thường được gắn với thời kỳ cổ sơ nhất, khi hình thành dân tộc, quốc gia và văn hóa truyền thống.
Trong danh sách phong thần lần đầu của thời Trần (năm 1285) có ghi tên tuổi các danh thần như Tản Viên, Hai Bà Trưng, Triệu Quang Phục, Sỹ Nhiếp... nhưng chưa nhắc đến Hùng Vương.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thắp hương tưởng nhớ các Vua Hùng trong ngày Giỗ Tổ. Ảnh: TTXVN
Tài liệu lịch sử nhắc đến Hùng Vương là Việt sử lược (bộ sử khuyết danh được viết vào khoảng thế kỷ XV, sau này Toàn thư thời nhà Thanh trích dẫn: “Thời Chu Trang Vương (khoảng thế kỷ IX trước công nguyên), ở vùng Giang Ninh có một dị nhân có khả năng dùng phép thuật thần kỳ để thần phục các bộ lạc và tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang và đặt quốc hiệu là nước Văn Lang, biết cách ghi chép sự kiện bằng cách thắt các nút dây thừng và biết làm chính trị, truyền được 18 đời”.
Năm 1470, Lê Thánh Tông là vị vua đầu tiên cho lập “ngọc phả Hùng Vương”, coi đó là vua thủy tổ của dân tộc. Đến thời Ngô Sỹ Liên, ông đưa chuyện Quốc tổ Hùng Vương vào chính sử, mục truyện họ Hồng Bàng, phần ngoại kỷ. Tuy nhiên, đến thế kỷ XV (thời nhà Lê) thì Quốc tổ Hùng Vương đã được chính thức hóa trên phương diện lịch sử và hằng năm tổ chức thờ phụng. Từ đó, trải qua thời Tây Sơn và nhà Nguyễn (tới năm 1945) cũng như dưới chính thể Việt Nam mới, dù ở miền Bắc hay miền Nam (đến năm 1975), người Việt Nam đều vun đắp cho việc thờ phụng Quốc tổ Hùng Vương.
Cố kết quốc gia - dân tộc
Việc hệ thống lại các huyền thoại Hùng Vương rồi đưa vào chính sử là một nhu cầu của lịch sử xã hội Việt Nam thời Ðại Việt. Ðó là quá trình xây dựng và củng cố quốc gia phong kiến quân chủ tập quyền, cần xây dựng một biểu tượng cho tinh thần cố kết quốc gia - dân tộc trước sức ép đe dọa xâm lược của các thế lực phong kiến bên ngoài.
Tư tưởng cội nguồn, ý thức cố kết quốc gia - dân tộc này được thể hiện ngay trong đôi câu đối trước cổng đền Hùng: “Thác thủy khải cơ, tứ cố sơn quy bản tích - Ðăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn” (Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối - Lên cao nhìn khắp, trập trùng đồi núi cháu con đông).
Xây dựng biểu tượng và thờ cúng Hùng Vương là vấn đề lớn của tín ngưỡng - văn hóa Việt Nam. Cùng với biểu tượng và thờ cúng Hùng Vương là huyền thoại về “tứ bất tử” (bốn vị thánh bất tử) với Thánh Gióng tượng trưng cho sức mạnh chống giặc ngoại xâm; Thánh Tản Viên hay Sơn Tinh tượng trưng cho sức mạnh chinh phục tự nhiên; Chử Ðồng Tử tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự sung túc giàu có; Thánh Mẫu Liễu Hạnh tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, phúc đức, đòi quyền bình đẳng của phụ nữ.
Rước lễ dâng cúng Vua Hùng tại Công viên Lịch sử - Văn hóa dân tộc, phường Long Bình, quận 9 - TPHCM vào sáng 31-3 Ảnh: PHAN ANH
Mỗi cộng đồng người từ xã hội nguyên thủy bước vào xã hội văn minh đều có xu hướng tập hợp, thống nhất lại từ các bộ lạc nhỏ bé và biệt lập. Mười lăm bộ thời Văn Lang thống nhất dưới quyền của Lạc tướng bộ Vũ Minh là Hùng Vương, người chỉ huy quân sự và chủ trì các nghi lễ tôn giáo. Truyền thuyết cũ về sự tích 99 ngọn núi Hồng là hình tượng 99 con voi hướng về chầu Vua tổ Hùng Vương, còn con voi duy nhất không chịu quy thuận đã bị tội chém đầu.
Xu hướng thống nhất ấy là một đòi hỏi của lịch sử, được liên kết mang tính tôn giáo và không loại trừ các hành động chiến tranh. Ðó là thời đại anh hùng, dân chủ - quân sự và những thủ lĩnh quân sự mà về nhiều phương diện đã được phản ánh trong các sử thi anh hùng ca của nước ta thời cổ đại. Các sự tích, huyền thoại về những vị thần linh, tập trung nhất trong 4 vị thần linh bất tử, đã thâu tóm lịch sử cụ thể và hiện thực thành một loại sản phẩm tinh thần mang đầy tính thi hứng, thẩm mỹ như một bản hùng ca được truyền tụng tới mai sau. Tất cả những điều này, từ việc xây dựng biểu tượng cội nguồn Vua tổ Hùng Vương đến những tín ngưỡng văn hóa thờ phụng rất cần được nhân dân ta tự hào, gìn giữ và tôn vinh.
Biểu tượng cội nguồn dân tộc
Quá trình hình thành hệ ý thức, ký ức lịch sử thời Vua Hùng là kết quả của sự vận động lịch sử, vừa là sản phẩm của văn hóa bình dân, văn hóa dân gian, thông qua các huyền thoại, truyền thuyết, các phong tục nghi lễ thờ tổ tiên của các gia tộc, dòng họ nơi thôn dã vừa là sự kết tinh ý thức văn hóa bác học của các nhà trí thức, bậc minh quân của các triều đại.
Quá trình trên là sự kết hợp của sự vận động từ dưới lên (dân gian, cộng đồng), từ trên xuống (Nhà nước, sĩ phu); đồng thời lại vừa tích tụ từ ngoài vào, lan tỏa từ trong (trung tâm) ra. Nếu thiếu một trong các nhân tố song đôi như: trên - dưới, trong - ngoài, Nhà nước - cộng đồng thì không thể tạo nên tín ngưỡng Hùng Vương với tư cách là biểu tượng cội nguồn của quốc gia - dân tộc, không thể có phong tục thờ cúng Quốc tổ Hùng Vương như hiện nay.
GS-TS Ngô Đức Thịnh (Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia)
Thích Thì Click Ngay :